Tìm Hiểu Về Tổng Đốc Phương- Một Trong Tứ Đại Phú Hộ Sài Gòn Xưa 1

Tìm Hiểu Về Tổng Đốc Phương- Một Trong Tứ Đại Phú Hộ Sài Gòn Xưa

Người dân Sài Gòn thời đó không ai mà không biết đến “tứ đại phú hộ”. Tứ đại phú hộ là cụm từ dân gian Sài Gòn xưa đặt ra vào cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX để chỉ 4 người giàu nhất Sài Gòn. Để dễ nhớ, dân gian có câu “Nhất Sỹ, Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Hỏa”. Hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về “nhì Phương”, cũng tức là ông Đỗ Hữu Phương, hay còn được người xưa gọi với cái tên “Tổng Đốc Phương”. 

Tìm Hiểu Về Tổng Đốc Phương- Một Trong Tứ Đại Phú Hộ Sài Gòn Xưa 3

Bối Cảnh

Cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 là giai đoạn mà xã hội Việt Nam bắt đầu chuyển mình và thay đổi rất lớn. Đây không phải là một sự lựa chọn mà là sự bắc buộc. Việt Nam bị bắt buộc phải bỏ sự cô lập đứng riêng với tổ chức chính trị kinh tế xã hội đặc thù của mình và bị ép không cân xứng vào hệ thống kinh tế toàn cầu của sự phát triển tư bản phương Tây.

Lúc bấy giờ là một hệ thống không công bình và khác lạ với con người Việt Nam truyền thống. Việt Nam coi như là xứ thuộc địa của Pháp: với Nam Kỳ thuộc Pháp trong khi Bắc Kỳ, Trung Kỳ là xứ bảo hộ.

Trong giai đoạn đầu của thời Pháp thuộc ở Nam Kỳ, nhiều tầng lớp yêu nước khởi nghĩa giúp vua chống lại Pháp, và một số theo Pháp đàn áp khởi nghĩa. Đến cuối thế kỷ 19 thì người Việt Nam nhận ra rằng phải thích ứng với tình thế mới và tìm tường hay phương hướng mới để dành độc lập, phát triển quốc gia.

Những người như các ông Gilbert Trân Chánh Chiếu, Lương Khác Ninh, Trương Duy Toản,.. mặc dù hấp thụ văn hóa Pháp, tư tưởng Tây Phương nhưng luôn có cái nhìn muốn canh tân, cải cách đất nước. Họ là những người yêu nước và trong giai đoạn đầu thế kỷ 20, đa số họ thành lập hay tham gia trong phong tào Minh Tân, có liên hệ mật thiết với phong trào Đông Du do Phan Bội Châu và Cường Để khởi xướng.

Nhưng cũng có những người hấp thụ văn hóa Pháp, thích ứng với tình thế có địa vị trong xã hội nhưng không còn nghĩ đến xã hội đất nước trong một phạm vi lớn hơn. Những người như vậy được ưu đãi và có lợi thế qua sự hợp tác của họ với Pháp trong lãnh vực kinh tế, chính trị hay qua vị thế của họ trong xã hội như các thương gia Hoa kiều, các người theo đạo.

Một trong những người như vậy là ông Đỗ Hữu Phương, một người Việt gốc Minh Hương ở Chợ Lớn. Bài viết này không có mục đích đánh giá con người mà chỉ mô tả những sự kiện liên hệ đến ông Đỗ Hữu Phương trong bối cảnh xã hội ở đầu thế kỷ 20 qua các tư liệu báo chí Pháp ngữ và Quốc ngữ mà hiện nay ít được chú ý. 

Có thể bạn quan tâm: » Cặp Song Ca Lê Uyên Phương – Một Thời Vang Bóng

Tổng Đốc Phương – Đỗ Hữu Phương


Ông Đỗ Hữu Phương có khác với những người lúc đầu hợp tác với Pháp là ông rất chuộng văn hóa Pháp. Bắt đầu từ Hội Nghiên cứu Nam Kỳ và Đông Dương (Société des Études Indo-chinoises) là nơi những tầng lớp trí thức và thượng lưu Pháp Việt giao du và học hỏi.

Những người Pháp nghiên cứu và có kiến thức rộng về Nam Kỳ và Đông Dương phải kể đến Antoine Landes, Charles Lemire, George Durwell và Việt thì có Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký. Ngoài ra những thương gia, kỹ nghệ Hoa Việt, các quan lại, công chức trong bộ máy cầm quyền Pháp làm việc chung với người Pháp và qua đó văn hóa Pháp dần dần ảnh hưởng sâu rộng vào xã hội miền Nam, nhất là ở thành thị.

Ngược lại người Pháp ở chính quốc bắt đầu biết đến vùng đất Đông Dương và họ tò mò tìm hiểu về văn hóa ở Viễn Đông nhất là trong giai đoạn cuối thế kỷ 19 sau hội chợ thế giới 1889 cho đến thời đại Belle Epoque đầu thế kỷ 20 thì sự hấp dẫn văn hóa Viễn Đông đã có tác động lớn vào giới nghệ sĩ, học thuật ở Paris.

Tổng Đốc Phương Và Hội Chợ Quốc Tế Paris 1900


Trong giai thoại về cô Cléo de Merode với các ông đốc Phủ, ta có thể đoán rằng ông Phủ có quyền thế và giàu có trong câu chuyện, người ngõ ý mời cô qua Nam Kỳ đến ở dinh ông ở Saigon, chắc phải là ông Tổng đốc Đỗ Hữu Phương.

Hội chợ triễn lãm thế giới năm 1900 ở Paris đòi hỏi sự tổ chức qui mô, riêng về phần khu triễn lãm Đông Dương dưới sự điều hành của Jules Charles-Roux, Pierre Nicolas ở Paris và Paul Doumer ở Hà Nội, ở Nam Kỳ có Uy ban dịa phương Nam Kỳ (Comité local de Cochinchine) trong đó ông Đốc Phủ Sứ Đỗ Hữu Phương là một hội viên và ông Trương Vĩnh Ký là thư ký.

Khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, tầng lớp thượng lưu Hoa Việt ở Nam Kỳ đều chịu ảnh hưởng ảnh hưởng văn hóa Pháp mà ông Phương là một thí dụ nổi bật.

Bạn đang xem : » Tìm Hiểu Về Tổng Đốc Phương- Một Trong Tứ Đại Phú Hộ Sài Gòn Xưa

Một Vài Nét Về Đỗ Hữu Phương

Ông Đỗ Hữu Phương
Ông Đỗ Hữu Phương

Đỗ Hữu Phương sinh ở Chợ Đũi, Saigon năm 1840, mất ngày 0505/1915. Ông là gốc người Minh Hương. Năm 1861, khi Pháp chiếm thành Saigon và đánh đồn Kỳ Hòa, người Pháp đã thấy tầm quan trọng của thương mại người Hoa ở Chợ Lớn, họ đã mua lương thực, trao đổi hàng hóa với người Hoa ở Chợ Lớn trong thời gian công phá đồn Kỳ Hòa.

Ngay sau khi đã phá được đồn Kỳ Hòa, người Pháp tuyên bố Sài Gòn là cảng tự do mở cửa buôn bán với thế giới bên ngoài. Thương mại người Hoa ở Chợ Lớn sau bao nhiêu năm ức chế, bế quan tỏa cảng, đã bộc phát và cộng đồng người Hoa và Minh Hương ở Saigon-Chợ Lớn hồ hởi tham gia vào tình hình kinh tế mới.

Trong năm 1861 biến động lịch sử này, Đỗ Hữu Phương thấy được cơ hội mới, ông đã tiếp xúc và làm việc với người Pháp chân ướt chân ráo cố gắng tuyển dụng người thiết lập một nền hành chánh còn rất sơ khai ở Saigon-Chợ Lớn. Ông được phong ngay làm chức trưởng khu Chợ Lớn (chef de quartier Cholon), sau thành huyện Chợ Lớn.

Năm 1872 ông được phong là Đốc Phủ tỉnh Chợ Lớn và huân chương Legion d’Honneur. Ông về hưu năm 1897. Theo Brébion thì ông đã đi qua Pháp 4 lần; viếng các thủ đô ở Âu châu và đi chuyến vòng quanh thế giới năm 1884. Trong danh sách các hành khách đi tàu “Anadyr” từ Saigon đến Marseille ngày 29/04/1889, có tên ông cùng với 2 người con. Như vậy ta có thể đoán rằng ông đi chu du nước Pháp trong dịp hội chợ thế giới 1889 kỷ niệm 100 năm cách mạng Pháp.

Ông Phương là người có tiếng hiếu khách tiếp đãi người nước ngoài đến tư gia ông. Ông toàn quyền Đông Dương Paul Doumer, khi có dịp vào Saigon cũng thường đến tư gia của ông Đỗ Hữu Phương. Paul Doumer là người có trách nhiệm thiết kế và giúp đỡ tổ chức khu triễn lãm Đông Dương ở Hội chợ quốc tế Paris năm 1900.

Đỗ Hữu Phương giao thiệp rộng rãi và biết rất nhiều các quan chức Pháp ở Saigon. Theo Hứa Hoành, ông thường đến nhà hàng khách sạn Continental ở Saigon, và Café de la Paix, nơi gặp gỡ của các bạn bè Pháp Việt thượng lưu trí thức. Nơi đây có các quan chức như ông Paul Blanchy (thị trưởng Saigon), ông Bonnet, ông Morin. Đỗ Hữu Phương đã “Pháp hóa hơn cả người Pháp”.

Ông Phương gởi 4 người con trai qua Pháp học, trong đó có ông Đỗ Hữu Chẩn và Đỗ Hữu Vị học ở trường võ bị Saint Cyr. Khi khách tới nhà chơi đều được Phương đãi rượu sâm-banh, ăn bánh petits beurres de Nantes và uống cà phê “De La Paix”. Café de La Paix là quán cà phê nổi tiếng ở Paris nơi ông Phương đã đến khi qua thăm Paris. Ông đã qua Pháp 4 lần trong đó có lần dự Hội chợ triễn lãm 1889.

Theo Hứa Hoành thì ông Nguyễn Văn Vực có nhắc lại hồi đó có một bài ca dao rất phổ thông nói về Đỗ Hữu Phương hay đến nhà hàng Cafe de la Paix, bài ca dao này được Trương Minh Ký dịch ra Pháp văn, đại khái như sau:

“Các quan lại Pháp thường hay đến tửu quán “Cà phê De La Paix”

…để gặp quan Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương và quan Bonnet đang ngồi tán dóc ở đó Bạn sẽ gặp ngài Paul Blanchy (Chủ tịch Hội Đồng Quản Hạt), cùng với ngài Morin ở đó nữa…

Bài này rất phổ thông hồi đầu thế kỷ 20 ở Sài Gòn, nay đã biến mất không còn dấu vết. Dịch giả cùng vài bạn Pháp cũng có đến đó chơi với Ðỗ Hữu Phương. Những người Pháp-Việt hội nhập ở đó, đã nhớ lại vẻ ấm cúng và thú vị của thuộc địa Nam Kỳ, so với bầu trời Paris luôn luôn ảm đạm lạnh lẽo.”

Có thể bạn quan tâm: » Ước Mơ Về Sài Gòn Giàu Đẹp, Nhân Văn Và Đáng Sống

Café de la Paix ở vị trí trên đường Nguyễn Huệ ngày nay, sô 56-64 Boulevard Charner, ngay góc đường rue d’Ormay (Mạc Thị Bưởi) và Charner. Trong lúc ông Đỗ Hữu Phương và các nhân vật giàu có và quan chức trong chính quyền như Paul Blanchy, Morin, Bonnet tụ tập ăn uống, trao đổi nói chuyên thì đối diện bên đường trong dãy phố gần tòa hòa giải (Justice de la Paix) mà ngày nay là tòa nhà Sun Wah, ông Nguyễn An Khương, một nhân sĩ trong phong trào Minh Tân, có khách sạn và tiệm may và bán vải ở số 49 Charner.

Và sau đường Charner, ở đầu đường Krantz (Hàm Nghi) là khách sạn của ông Trần Chánh Chiếu, cạnh ga xe lửa Saigon. Các ông Nguyễn An Khương (con ông là nhà cách mạng Nguyễn An Ninh), Trần Chánh Chiếu lúc này đang cố gắng lập hội, làm báo (Nông Cổ Mín Đàm, Lục Tỉnh Tân Văn) để canh tân thức tỉnh nước nhà thì trong khi bên kia đường ông Phương đang hưởng thụ cuộc sống. 

Một Phong Cách Sống Rất “Pháp” Của Đỗ Hữu Phương


Cách sống xa hoa và sự hiếu khách của Ðỗ Hữu Phương với người Pháp đã được bá tước Pierre Barthélemy kể lại như sau khi ông Barthélemy và các bạn của ông đến tư gia của Ðỗ Hữu Phương:

“Khi viếng Chợ Lớn, không thể không có chuyến ghé thăm một ông Phủ giàu có danh tiếng của thành phố này. Đó là điều chúng tôi làm, với sự tháp tùng của vài người bạn Sài Gòn của ông ta.

Ông đốc phủ tiếp chúng tôi thật nồng nhiệp Ông là một người An-Nam, tuổi khoảng 50, vẽ mặt thông minh; ông hầu như luôn mặc bộ đồ Tây và không do dự cho các con trai ông được theo học một nền giáo dục Pháp. Một trong các con trai ông hiện là một sĩ quan trong binh đoàn Lê Dương ở Algerie, trong khi một người con khác đang học xong ở Paris.

Nhà ông là một sự pha trộn lạ kỳ giữa Âu và Á. Sân trong thiết kế theo kiểu Trung Hoa, chung quanh sân là các phòng kiểu An Nam mà một phòng salon ở tận trong rất đáng chú ý. Đối diện với salon này là một biệt thự kiểu Âu.

Bàn thờ trong phòng salon An Nam này là một công trình tuyệt diệu nổi tiếng, bàn thờ được cẩn xà cừ. Những cột nhà làm bằng gổ teck rất quí, trụ mái nhá của phòng salon này trông rất thanh tao và trên một bàn làm bằng gỗ quí là những chai rượu absinthe, amer Picon và những sản phẩm của Pháp khác.

Ông Phủ thích đãi khách các đồ ăn đặc biệt, và ông ta cũng biết thưởng thức các loại rượu của chúng ta. Nếu phải diễn tả hết tất cả sự giàu sang của nội thất An nam này, thì phải viết rất nhiều trang giấy. Tôi thấy đủ hài lòng để chỉ kể lại buổi ăn trưa mà ông chủ nhà đáng mến sẽ làm cho chúng tôi thưởng thức. Thường thì ông Phủ Chợ Lớn ăn đồ ăn Tây ở nhà, nhưng chúng tôi hôm đó dùng vài món ăn An Nam và kết thúc với các măn ăn Tàu.

Ông chủ chủ tọa bàn ăn. “……….” “Thường thì ông Phủ ở Chợ Lớn đãi thực khách bằng thức ăn Tây, nhưng chúng tôi hôm nay được thưởng thức ăn vài món An nam và ông thêm vào các món Tàu. Chủ nhà chủ tọa ngồi vào bàn ăn, chúng tôi vui vẽ tập dung đôi dủa để gắp thức ăn vào đủ các dĩa. Thực đơn gồm các món ăn như sau: 

Cháo tổ yến
Cá kiểu An Nam (với các chén cơm) (cá này có ướp nước mắm)
Thịt heo kiểu An Nam (nước mắm)
Duông dừa (sâu dừa) nướng
Dưa chua với thịt heo theo kiểu Âu
Trứng chiên với fromage kiểu Âu
Tráng miệng: Vãi, xoài, vãi nhỏ An Nam, gừng và các trái cây nhiệt đới khác. 

Những món ăn này hợp với khẩu vị Âu của chúng ta; duy chỉ có một món làm chúng tôi lo âu, đó là món đuông dừa (sâu dừa). Nhưng chúng tôi biết rằng một món như vậy rất là quí, rất khó tìm các con đuông này. Để có các con đuông, người ta phải chặt nguyên cây dừa và lấy từ ngọn một loại sâu đặc biệt sống ở đó.

Một cây bị đốn chết, và vì thế người ta nhận ngay ra là thật tốn kém như vương giã để có một con sâu nướng. Vì thế chúng tôi phải nếm món này như một kiểu ăn mới.Nó nếm giống như sa lách đọt dừa, con sâu ăn rất ngon và chúng tôi không do dự tuyên bố rằng món này thật ngon và xứng đáng là món ăn đặc khẩu thi vị.

Tuy vậy sau buổi ăn thử hút ống pip thuốc phiện thì kém thành công hơn cho các bạn đồng hành không hợp chịu thuốc của tôi và đa số chúng tôi không thể theo kịp được với ông Phủ hút thật tài tình. Ông ta kế đó dẫn chúng tôi viếng tòa nhà villa kiểu Âu của ông ta.

Một phòng tiếp khách lớn nằm ở trung tâm tòa nhà. Ở giữa phòng khách này là một bàn đỡ một cặp ngà voi thật tuyệt đẹp. Chung quanh là các tủ kính chứa đầy các vật bằng ngọc thạch và các đồ mỹ nghệ đắt giá. Lúc này chúng tôi không thể không mĩm cười khi thấy các bức màn và giấy phủ trên tường, mà ý định là bắt chước mode mới nhất ở Paris. Nhưng ta không thể quá khắt khe về việc này và Paris thì quá xa Saigon.

Lúc trở ra, chúng tôi phải chiêm ngưỡng một bộ sưu tập hình thú bằng sành đặt trên hòn non bộ nằm chính giữa mà chung quanh là suối nước chảy: đó là một trong các vật trang trí trong vườn với vài cây nhỏ bé (bonsai) được làm từ Nhật Bản. Ông Phủ rất lấy làm hài lòng chỉ cho chúng tôi tham quan cơ sở tư dinh của ông ta va chúng tôi từ giã ông rất trễ, sau khi đã cám ơn ông ta nồng nhiệt.”

Toàn quyền Paul Doumer, trong hồi ký về Đông Dương, có nói về Nam Kỳ và ông Đỗ Hữu Phương như sau:

“Ông Phủ ở Chợ Lớn tiếp khách người Âu trong nhà ông, mời uống rượu Champagne và bánh petits beurres de Nantes, cho khách xem không mệt nghĩ một vài sản phẩm đặc thù lạ kỳ của người An Nam, và tổ chức, theo sự đòi hỏi ước muốn của khách, xem một tuồng hát của người bản sứ (dịch giả: đây chắc là hát bội).Đó là hình ảnh Nam Kỳ, một chút kiểu cách và bóp méo trong cách diễn tả của người ta và được dung phổ biến, ngay cả những người ngoài cuộc không biết nhiều.

Ông Đỗ Hữu Phương đã đến Pháp nhiều lần; ông ta được tiếp đón ân cần và ông trở thành nổi tiếng ở Paris, từ nhà hàng Durand đến café de la Paix. Ông ta là một trong những người phụng sự cho chúng ta trong những ngày giờ đầu tiên, là học trò ngày xưa của các nhà truyền giáo ky tô, vì thế được chúng ta ban tặng những huân chương và đạt được sự giàu có”. 

Ông Đỗ Hữu Phương rất được biết trong giới thượng lưu và nghệ sĩ ở Paris. Bạn ông, Charles Lemire có giao thiệp rộng rãi trong giới nghệ sĩ, nghệ thuật đặc biệt là nghệ thuật sân khấu, kịch và opera ở Paris. Vì thế ta sẽ không lạ nếu Cléo de Mérode biết về ông Đốc Phủ Đỗ Hữu Phương.

Nhà hát Đông Dương ở hội chợ Paris, một phần có lẽ là dựa vào kiến trúc bên trong của tư gia ông ở Chợ Lớn. Trong dinh thự của ông ở Chợ Lớn có nhà hát tuồng, có đền thờ tổ theo phong cách Á đông của người Hoa. Mặc dù không có dự Hội chợ 1900 nhưng ông có ảnh hưởng qua sự giao tiếp rông rãi với nhiều quan chức tổ chức và điều hành khu triễn lãm Đông Dương như toàn quyền Paul Doumer, Charles Lemire.

Trong dinh thự ông còn có nhà hát, thỉnh thoảng dùng để diễn các tuồng hát bội. Nhà ông ngày nay trên đường Châu Văn Liêm (trước đó là đường Tổng Đốc Phương) không còn dấu vết gì để lại. Nhưng qua các ảnh để lại ta có thể thấy sự bề thế của dinh thự ông. Một kiến trúc kiểu Tây nhìn từ phía ngoài nhưng bên trong là phong cách Á đông.

Dinh thự của ông Đỗ Hữu Phương dọc Kinh Xếp, Chợ Lớn
Dinh thự của ông Đỗ Hữu Phương dọc Kinh Xếp, Chợ Lớn

Nhà ông Đỗ Hữu Phương ở Chợ Lớn là một tòa nhà tư gia to lớn rộng rãi, nằm dọc theo kinh Xếp. Sau này kinh Xếp được lấp đi thành đường Tổng Đốc Phương (nay là đường Châu Văn Liêm). Theo ông Pimodan, người đã viếng thăm nhà ông Phương, một phần tư gia ông Phương được Pimodan mô tả như sau:

“Một vài cây số từ Sài Gòn là Chợ Lớn, một thành phố lon của người bản địa, mà điểm thu hút chính là tư gia của một người An Nam giàu có, ông Đỗ Hữu Phương, mà từ rất lâu đã ủng hộ và là bạn của chúng ta. Ông ta thực hiện một số chức năng hành chính mà chức vụ theo tiếng An Nam là “Phủ” tên mà ông ta được biết đến. 

Con trai của ông, một sĩ quan dễ mến của quân đoàn Lê Dương, vừa mới tốt nghiệp trường võ bị Saint-Cyr, tiếp đón chúng tôi ở nhà cha, gồm các tòa nhà riêng biệt xây xung quanh một sân rộng lớn hình chữ nhật.

Ở sâu trong tòa nhà, nơi tiếp khách, trong một loại nhà sảnh lớn là nơi gia đình cư ngụ. Trên một bàn, ngự trị bức tượng Đức Phật, và cạnh đấy là những bức ảnh của các thành viên gia đình, giữa các bình ly và hoa.

Chung quanh là các đồ vật đủ loại rất là khác nhau. Chổ này là đồ nội thất cẩn xà cừ, cổ xưa và rất đẹp, các đồ mỹ nghệ Âu châu không đáng kể, được mua rẻ tiền trên các kệ của một chợ nào đó; còn có một cái bàn thấp, trên đó có các trái cau, các lá trầu và vôi nhuộm màu hồng, mà người An Nam nhai chúng chung lại với nhau rất thỏa thích.

Trong một góc nhà, có một hộp âm nhạc to lớn phát ra từng nốt các giai điệu Đông Dương lạ kỳ. Các câu, bao gồm bốn hoặc năm nốt, đôi khi nhạt nhẽo, đôi khi kỳ lạ, đôi khi hài hòa, kế tiếp nhau mà không có phối hợp dựa trên một đơn điệu.

Nó trông giống như một giai điệu chơi bởi một đàn “orgue de Barbarie” cũ (một loại đàn máy thường những người hát dạo dùng trên đường phố), với các xi lanh mòn xóa đi một số nốt nhất định, thay đổi các giá trị của chúng tương đối với các nốt khác, và chỉ phát ra một cách biếm họa của giai diệu sơ khai.

Lúc này, các con gái của ông “Phủ” đến tham gia với chúng tôi. Đây là những thiếu nữ trẻ tuổi dễ thương, được dạy dỗ tốt bởi các bà sơ và nói tiếng Pháp rất chuẩn. Họ kể cho chúng tôi một cách duyên dáng là họ đi dự, với y phục truyền thống, khiêu vũ của Toàn quyền và than phiền là họ không khiêu vũ được bởi vì đôi giày đế bằng gỗ của họ.

Chúng tôi đã biết chổ ở, giờ thì chúng tôi đi tham quan dạo quanh những khu vườn trang trí công phu có óc tưởng tượng độc đáo nhất trong các phong cách làm vườn. Một số cây, thõa mãn trong kích thước nhỏ bé của mình, có hình dạng như các lọ bình, các động vật, ngay cả hình cơ thể con người được trang trí với các gương mặt, bàn tay và bàn chân bằng sứ.

Nhưng con búp bê như đang đi bộ giữa những con đường mòn dốc của ngọn đồi nhỏ, dưới bóng của các cây sim và cây cam nhỏ lùn phản chiếu trong các hồ nước nhỏ hơn kích thước của chậu nước. Xa hơn một chút, trong một chuồng chim thật lớn, có các con vẹt đang cục tác; cạnh đó, là một con chim hét nói huyên thuyên tiếng Việt.

Con chim này rất tốn tiền, giá rất cao và người ta đến coi nó vì tò mò. Còn về các tiết mục của nó, dường như nó có rất nhiều “gia vị”, và ngay cả con vẹt Vert-Vert ( con vẹt trong vở opera Vert-Vert của Offenbach) sẽ đỏ mặt nếu nghe nó nói.” 

Có thể bạn quan tâm: » Người Tình Của Hắc, Bạch Công Tử – Cô Ba Trần Ngọc Trà

Một góc vườn trong dinh tổng đốc Phương, trong hình có các cây kiểng “bonsai” hình thú đúng với những gì ông Pimodan và Pierre Barthélemy viết trong sách hồi ký của họ.
Một góc vườn trong dinh tổng đốc Phương, trong hình có các cây kiểng “bonsai” hình thú đúng với những gì ông Pimodan và Pierre Barthélemy viết trong sách hồi ký của họ.

Sau khi ông Đỗ Hữu Phương mất không lâu, con trai thứ hai của ông, Đỗ Hữu Vị sinh năm 1884 ở Chợ Lớn, phục vụ trong quân đội Pháp cũng đã hy sinh vào tháng 7 năm 1916 trên chiến trường Somme trong đệ nhất thế chiến. Đỗ Hữu Vị cũng là một phi công có tiếng, ông là người đầu tiên bay ở Maroc, Bắc Phi. Hiện nay, ở thành phố Casablanca vẫn còn có tên đường mang tên Đỗ Hữu Vị.

Nguồn: Nguyễn Phước Hiệp (Vietsciences)

Similar Posts