Made in SaiGon

Tiếng yêu lần đầu

Trần Thu Thảo

Giấc chiêm bao hay trở đi trở lại nhiều nhất là cảnh tôi vội vã trên đường tìm về ngôi nhà thân thuộc trong buổi chiều chập choạng tối nhưng đi mãi không bao giờ đến nơi. Phải chăng Sài Gòn với biết bao con đường, ngõ xóm mà tôi từng ở, có lẽ trong tiềm thức, nơi ở cuối cùng này đã gắn bó sâu sắc trong sâu thẳm của trái tim tôi, nơi lần đầu tôi biết nói tiếng yêu. Nhà tôi ở số 20, căn cuối cùng, trong hai mươi căn nhà của cư xá dành cho công chức.

Trong ký ức của tôi thật không nơi đâu đẹp bằng. Trước nhà là một công viên với những giàn hoa giấy đỏ, có thảm cỏ, băng đá và những hàng nê-ông sáng rực mỗi khi đêm về. Trước mặt là một nhánh sông chảy đến khúc quanh vào cư xá thì dừng lại. Giáp nhà tôi là vườn hoa của Công trình đô thị. Đứng trước nhà nhìn vượt qua hàng rào bằng bông bụp trông thấy rõ những đóa hồng đủ màu sắc rung rinh theo gió.

Tôi còn nhớ hàng bông phù dung trồng ven sông, mỗi buổi sớm mai nắng chưa lên hoa có màu trắng bạch to bằng hai bàn tay xòe, chỉ cần nắng lên nhuộm nửa hàng cây là hoa chuyển thành màu hồng rực rỡ, nhưng xế chiều là hoa nhăn nhúm không ra hình thù. Người ta bảo " Hoa phù dung sớm nở tối tàn" thật không sai . Nhiều hoa thế nên cơ man nào là bướm, chúng đủ loại với đủ màu sắc bay lượn trên thảm cỏ và nhất là ở vườn hoa cây kiểng.

Tôi thường dùng vợt đánh cầu lông đập chúng rơi xuống, chụp nhanh lấy rồi đặt ngay chúng lên trang sách, tuy có hơi ghê tay nhưng cũng gắng ấn mạnh lên thân để chúng xòe cánh ra rồi ập ngay sách lại. Thỉnh thoảng tôi lại mở sách ra ngắm nhìn. Màu sắc của bướm vẫn giữ nguyên, con thì màu đen óng như nhung, trên cánh có những đốm tròn như những con mắt đang mở lớn, con thì màu cam, chấm trắng viền đen trông sặc sỡ như những chiếc lồng đèn tháng Tám...

Thú vui khác của tôi là tắm sông. Những khi nước đầy, tôi lại chui hàng rào, trượt qua lau sậy là tới mặt sông. Một mình tôi thỏa sức vẫy vùng.Tôi bơi đủ kiểu, hết bơi sãi, bơi ếch rồi lại thả ngửa. Tôi biết bơi nhờ bao lần tập bơi với Ba tôi ở Pít-sin của Sở Cứu hỏa. Thế nhưng chỉ dám bơi ở nhánh sông con, xa nữa thì tôi không dám. Thế mà lần ấy sao tôi gan dạ thế. Cùng vài đứa bạn có cả trai lẫn gái đang vùng vẫy ven bờ thì không biết ai đã thách thức bơi qua sông.

Tôi cũng liều dù không biết có giữ được hơi. Mới bơi được nửa sông, tôi thấy khó thở liền lật ngửa người lên cố đập đôi chân đã mỏi nhừ, miệng uống mấy ngụm nước mới tới được bờ. Lúc chân chấm đất mới biết mình đã suýt chết hụt. Thật may lúc về nhờ có thuyền của thợ gặt chở giúp qua sông. Trên thuyền Thạnh bảo đã bơi kèm phía sau, lỡ có gì thì đỡ. Tôi thật cảm động. Từ đó quen nhau. Nhưng chỉ là nhìn nhau không nói một câu.

Nhân một hôm tôi bắt được mấy trang thơ chép tay của Du Tử Lê liền đưa cho Thạnh đọc. Hôm sau Thạnh trả lại, trên trang giấy trống có ghi Thạnh không đủ sức bình thơ nhưng " Nước non chia sẻ. Lòng người không chia". Thật quái lạ, tôi không hiểu gì, đọc tiếp trang sau hóa ra Thạnh chép tặng bài thơ " Lời thề non nước" của Tản Đà. Chữ viết của Thạnh sắc sảo nhưng giọng văn cứ ngỡ người của " Gió đầu mùa" hay " Tố Tâm" hiện về.

Một hôm Thạnh rủ tôi đi xem chiếu bóng ở rạp. Tôi mặc chiếc áo dài sẫm màu của cô tôi cho có hình lập thể ngoằn ngoèo còn vương vất mùi nước hoa thoang thoảng. Tôi đạp xe chạy trước Thạnh chạy xe theo sau. Có lúc cùng chạy ngang hàng, tùy theo dòng xe lưu thông trên đường nhưng chẳng nói với nhau câu nào mãi cho đến rạp hát.

Chúng tôi ngồi trên lầu, gần cuối rạp chẳng nhìn thấy gì cả, có lẽ dạo ấy mắt tôi đã cận thị cũng nên. Tôi chẳng nhớ tên phim là gì, chỉ biết thỉnh thoảng lại nghe tiếng khán giả cười vang. Và cũng vì lúc ấy tôi còn bận hồi hộp chống cự lại góc trán của Thạnh đang tì vào màng tang của tôi. Hai đứa cứ tì đầu vào nhau như hai chú dế, khác cái không phải chọi nhau mà đan xen là cảm giác xao xuyến khó tả. Cứ thế cho đến khi đèn trong rạp bật sáng. Bẳng đi cả tháng không thấy Thạnh đâu, còn tôi đã hết ngày tháng rong chơi bắt đầu mặc áo dài của tháng ngày trung học. Má tôi một hôm đưa cho tôi hai cái lót ngực bằng mút, khiến khi mặc áo dài trông tôi người lớn hẵn lên. Mà áo lại mỏng nữa chứ. Tôi nhớ cả ba chiếc đều mỏng, một chiếc bằng xuyến màu xanh da trời, hai chiếc kia đều bằng voan, màu hoa cà và màu trắng in bông lấm tấm.

Tôi đã có một chiếc xe đạp để đi học không còn phải đón đò ngang qua Chợ Quán. Thế nhưng qua cầu chữ Y thì sợ lắm, có lần thắng xe bị nhờn tôi phải liều ủi vào một chiếc xe ba bánh mới dừng được. Thế nên khi lên dốc, xuống dốc tôi đều phải dẫn bộ. Một hôm đang dẫn bộ như thế thì Thạnh dừng xe dúi vào tay tôi một gói nhỏ. Về nhà mở ra xem thì ra là một lá thư. Câu mở đầu đã là "Thảo yêu quí". Tôi thấy gai ốc nổi cả lên, tim như hụt đi một nhịp.

Thế là thư đi thư lại. Không biết hồi ấy chúng tôi viết cho nhau những gì nhưng tôi nhớ luôn kèm chữ yêu sau tên nhau ở đầu mỗi lá thư. Một lần Thạnh tặng tôi ảnh và bảo tôi tặng lại. Tôi quên tả là Thạnh rất đẹp trai, lớn hơn tôi bốn tuổi nên trông Thạnh cao lớn, khuôn mặt chữ điền, chân mày lưỡi mác, mũi cao, miệng đẹp nên chụp ảnh trông cũng đẹp. Tôi giữ ảnh rất kỹ. Thỉnh thoảng lấy ra xem, thấy tim đập hụt nhịp lại vội cất vào.

Còn ảnh tặng thì tôi cứ hẹn mãi. Sau cùng cũng ra phố chụp hai kiểu ảnh. Một kiểu tôi mặc áo choàng lông của cửa hiệu có sẵn trông cứ như mệnh phụ phu nhân, kiểu khác tôi chụp nghiêng tay cầm vợt cầu lông trông xấu tệ. Thế mà Thạnh cũng đòi giữ cả. Dạo gần Tết, Thạnh rủ tôi về quê nội ở Long An để nội biết mặt cháu dâu. Tôi sợ hết hồn, liền bảo tôi mới mười bốn. Thạnh bảo hồi nội lấy ông cũng bằng tuổi tôi. Đời nào tôi dám đi xa thế. Tôi biết nói thế nào với má đây. Mà cả hai đều còn đi học...

Nhưng cuộc đời đâu diễn ra bằng phẳng thế. Ba tôi phải chuyển nơi làm việc ra Vũng Tàu. Tôi biết nói sao đây. Thạnh thì buồn lắm. Một hôm Má ra thăm Ba về cho biết ngày mai sẽ trở ra Vũng Tàu và ngày mốt sẽ có xe vào chuyển đồ đạc. Tôi buồn quá, Vũng Tàu cách Sài Gòn có xa không? Tôi sẽ xa mãi nơi này chăng? Còn mấy nhỏ bạn? Còn Thạnh? Buổi chiều tôi chia tay mấy nhỏ bạn bằng một chầu kem cây có kèm nắm kẹo dừa. Không đứa nào biết chuyện tôi và Thạnh.

Buổi tối Thạnh đến, chúng tôi ngồi sa-lông nói chuyện. Tôi cứ mãi lo ra vì mùi dầu thơm của Má tôi thử bôi lên người quá gắt. Thạnh bảo ra Vũng Tàu nhớ viết thư. Không biết bằng cách nào tôi đã ngồi gọn trong lòng Thạnh. Cảm giác ra sao tôi không còn nhớ, chỉ nhớ mẹo nhỏ của Thạnh " Sáng ngủ dậy bôi nước bọt lên mụn trên mặt sẽ khỏi", và bảo mai tôi dọn nhà Thạnh sẽ không tiễn vì buồn lắm. Xe chở đồ đạc chậm chạp lăn bánh, phút chốc đã hòa vào đường phố đông đúc của Sài Gòn. Tôi nhìn các cửa hiệu lướt qua tầm mắt trong lòng buồn rười rượi. Tôi biết rằng tôi sẽ vĩnh viển xa hẳn Sài Gòn. Tôi bỗng thấy sao mà nó thân thuộc và đáng yêu quá thế. Tôi không bao giờ nghĩ rằng rồi tôi sẽ quên, như tôi đã từng yêu.